Đôi điều về thực trạng và giải pháp cho Mỹ thuật Việt hôm nay

Thực trạng:

Sau một thời gian dài thoái trào và bế tắc của Mỹ thuật nước nhà, năm 2014 và 2015 được xem là hai năm có nhiều sự chuyển động tích cực. Hàng loạt các không gian sáng tạo được mở ra dù những không gian khác đột nhiên biến mất, hoặc tạm ngưng hoạt động. Hình thái hoạt động của các không gian sáng tạo này cũng rất đa dạng. Tuy nhiên, không thể không thấy rằng, mọi cố gắng này đều đang ở trạng thái hụt hơi. Vì thiếu nguồn lực tài chính, thiếu cơ sở vật chất, thiếu môi trường và sự chuyên nghiệp. Chợ Hàng Da, từ một địa điểm kinh doanh thương mại và các mặt hàng phụ vụ sinh hoạt thiết yếu trên địa bàn quận Hoàn kiếm vô cùng sầm uất, từ sau khi trở thành trung tâm thương mại đã trở nên vắng lặng tiêu điều. Ở đây đã trở thành không gian cho các hoạt động nghệ thuật theo hướng chợ nghệ thuật, tuy nhiên, từ khâu tổ chức thiếu chuyên nghiệp, thiếu vai trò của người thẩm định, dẫn dắt,… nên bùng lên lại xẹp xuống, manh mún, tùy hứng.Điều quan trọng nữa là, thị trường sau một thời gian dài ảm đạm, mỹ thuật Việt mất uy tín trên trường quốc tế, đó  là nguyên nhân sâu xa, nặng nề để có thể gượng dậy. Một thị trường mà người mua chủ yếu từ bên ngoài, còn nội địa không phải không đủ tiền mua tranh , mà bởi họ không hiểu mỹ thuật, và không có văn hóa sử dụng đồng tiền cho mỹ thuật.Các nghệ sỹ sáng tác hầu như phải tự mình bán tranh bằng nhiều cách khác nhau.Trong khi, không phải ai trong họ cũng có khả năng này. Mà tình trạng các gallery chép tranh, đạo ý tưởng phổ biến đến mức, họa sỹ rất sợ để tranh mình ở các gallery.

Thiếu vắng vai trò của các  nhà tư vấn, maketing, phê bình mỹ thuật chuyên nghiệp. Càng không có những curator có kinh nghiệm. Một họa sỹ có tên tuổi nói rằng, có một gallery muốn mua tất cả tranh trong triển lãm của họa sỹ với giá 4000 usd/bức, nhưng họa sỹ không dám bán, chỉ vì sợ không biết họ sẽ làm gì với tranh của mình. Có những gallery sống cầm chừng, họ có những họa sỹ ký hợp đồng, nghĩa là trong thời gian ràng buộc, không được kí gửi chỗ khác. Điều này không sai, nhưng như vậy, đồng thời với việc anh phải vẽ cái mà chủ gallery cần, chứ không được vẽ cái anh thích. Có những họa sỹ rất nổi danh vì bán nhiều tranh, nhắm mắt cũng vẽ được loại tranh để bán, nhưng khi vẽ một bức tranh mình muốn, đã không thể.Một gallery tốp đầu của Việt Nam, sau một thời gian vất vả, tốn kém mới đặt được chân vào thị trường tranh quốc tế, bù lại, tranh bán tơi tới, bèo cũng 3,4 ngàn usd, cao lên tới vài ba chục, bình bình khoảng 8,10 ngàn. Nhưng sai lầm chết người là, khi thấy khách mua thích loại nào, là đặt hàng trong nước đúng kiểu dạng đó, có khi, chính họa sỹ tự vẽ lại tranh của mình, cũng ok. Trên một số trang mạng, thấy đăng những quảng cáo kiểu như: “Tuyển họa sỹ chép tranh trả lương cao”. Chỉ sau một thời gian ngắn, các nhà tư vấn chuyên nghiệp quốc tế đã nhận ra.

7.1 

Trần Quốc Tuấn, Góc khuất, sơn dầu, 2011

 Họ cảnh báo cho khách của họ biết sự thật này. Thông tin lan ra trong giới, và sau đó, gallery này hết đất làm ăn.Một câu chuyện khác của một chủ gallery khác. Vị này có số phận khá giống với nhiều chủ gallery đã giải nghệ tại Hà Nội. Nghĩa là trong vòng từ thập kỉ 90 thế kỷ trước cho đến hết năm 2007, công việc bán tranh mang lại thu nhập mà các ngành nghề kinh doanh khác đều mơ ước. Tuy nhiên, điều này làm cho rất nhiều người nghĩ rằng, ai cũng có thể mở được gallery, rằng thuê một cửa hàng, gọi họa sỹ mang tranh đến, và ngồi thu tiền. Các gallery mọc như nấm sau mưa. Người đầu tư cũng như người bán tranh không có bất cứ kiến thức nào về mỹ thuật, cũng như về kinh doanh mỹ thuật. Họ thấy tranh của họa sỹ nào bán được là thuê người chép. Nạn chép tranh, nhái tranh, ngay chính họa sỹ cũng tự chép tranh của mình… giống như cơn đại hồng thủy quét sạch mọi thành quả vừa có được của thị trường nhen nhóm trước đó. Và vị chủ gallery mà tôi nói ở trên, dù chẳng làm gì nên tội, nhưng phong trào tẩy chay tranh Việt tỏ ra có hiệu quả kể từ 2007 trở đi. Bấy giờ, chỉ còn tranh “Bờ hồ”, tranh Nguyễn Thái Học với giá vài trăn ngàn đến một triệu tiền Việt là bán được. Nền mỹ thuật với những họa sỹ không bán được tranh, không có tia hy vọng nào, rơi vào trạng thái chết lâm sàng.

7.2

Lê Thị Hiền, Mây, thép, 2007

Và những nỗ lực vượt thoát 

Trong một bối cảnh như vậy thì sự ra đời của các không gian sáng tạo dành cho nghệ sỹ dường như là một giải pháp nhằm cho công chúng yêu nghệ thuật thấy được cách mà nghệ sỹ tạo ra tác phẩm một cách chân thực, đáng tin. Cũng trong những không gian này, với những art works, những tọa đàm, trao đổi về nghệ thuật, văn hóa, về các vấn đề liên quan đến sáng tạo … để nghệ sỹ được tiếp cận, được trang bị, nâng đỡ về kiến thức, hay phương pháp tư duy nghệ thuật một cách chuyên nghiệp, cách để có những bước đi tự tin, vững chắc cho họ.Một bạn trẻ được tu nghiệp ở nước ngoài, làm việc cho một không gian sáng tạo được cho là có uy tín hiện nay ở Hà Nội, bạn cho biết, đã hơn một năm không hưởng lương, nhưng vì tình yêu nghệ thuật vẫn ở lại để cùng bạn bè gây dựng cơ đồ. Để kiếm sống bạn đồng thời phải làm thêm nhiều công việc khác. Hiện giờ không ít những bạn trẻ như vậy, và có lẽ, đấy cũng là lí do để chúng ta hy vọng.Nỗ lực của các không gian sáng tạo nghệ thuật dù chưa tới đâu, cũng tạo nên sự hưng phấn sáng tạo cho các nghệ sỹ. Thay cho hoạt động của các gallery là xuất hiện thường xuyên triển lãm nhóm, cá nhân, art work , art markets, các hội thảo, tọa đàm… với sự tham gia của nhiều họa sỹ trẻ ở những không gian sáng tạo này.Hình thức nhiều loại hình hoạt động trong một không gian khá phổ biến. Tuy nhiên, do những không gian trong các khu phố trung tâm ngày càng trở nên chật hẹp, giá cả mặt bằng lại quá cao, nên không còn phù hợp với loại hình hoạt động này.Từ 2014 sang 2015, trên địa bàn thành phố Hà Nội, xuất hiện những không gian sáng tạo ở xa khu vực trung tâm cũ là Bờ Hồ, Tràng tiền, phố cổ. Heritage Space có thể coi là một ví dụ tiêu biểu. Tọa lạc trong  không gian một tòa nhà có kiến trúc độc đáo, với tổng cộng hơn ngàn mét vuông dành cho các hoạt động văn hóa nghệ thuật, trong vòng  chưa đầy một năm rưỡi, đã tổ chức tài trợ cho hơn 30 họa sỹ triển lãm cá nhân, triển lãm nhóm, gần trăm những talk show về văn hóa, nghệ thuật , kiến trúc, văn chương… với sự tham gia của những chuyên gia hàng đầu. Những cố gắng này đã thu hút giới truyền thông bởi nội dung từng thông điệp của các sự kiện, các hoạt động mang tính cách tân, đương đại, ngõ hầu muốn nơi này trở thành một trung tâm văn hóa mới của những thói quen mới.Làm được điều này ở Hà Nội dường như khó hơn rất nhiều với Sài Gòn. Bởi vì, người Hà Nội hầu như cố thủ với một thói quen: đi về trung tâm, xung quanh Bờ Hồ  cho mọi sinh hoạt văn hóa, dù thành phố đã bao điều đổi thay.Sau Heritage Space, Cuci Fine Art cũng dịch chuyển sang bên kia cầu Vĩnh tuy, một vài trung tâm khác sắp hình thành…Tuy nhiên , để có được những không gian sáng tạo chuyên nghiệp lại là điều không đơn giản. Bài toán rốt cuộc lại vẫn là cơ sở vật chất, là nguồn tài chính, là nhân sự chuyên nghiệp, những curator chuyên nghiệp, những nhà tư vấn chuyên nghiệp mà chúng ta chưa có.

7.3

Phạm Hà Hải, Giao mùa, sơn dầu, 2015

Công việc đào tạo là khẩn thiết

Không có gì đáng ngạc nhiên khi một giáo sư, một chuyên gia uy tín trong một lĩnh vực nào đó bày tỏ thành thật, mình chẳng hiểu gì về hội họa cả. Còn nói gì đến các tầng lớp khác trong xã hội. Vậy thì làm sao có thị trường mỹ thuật nội địa? Đó là giấc mơ hão huyền trong nhiều năm nữa. Đó là nếu ngay từ bây giờ chúng ta có những chương trình cụ thể cho việc đào tạo.Nhưng đào tạo là làm gì?Ở TP. HCM có Sàn Art, một không gian nghệ thuật đương đại, từ 3 năm nay có những chương trình nghệ sỹ cư trú, mỗi phiên dành cho 3 họa sỹ trong khu vực ASEAN kéo dài trong 6 tháng. Các họa sỹ được tài trợ nơi ăn chốn ở, vật liệu sáng tác, tiền sinh hoạt phí, được tham gia những workshop về các vấn đề văn hóa nền tảng, về tư duy nghệ thuật, về cách phát triển các vấn đề của bản thân nghệ sỹ… Tựu trung, họ cần được trở thành những nghệ sỹ chuyên nghiệp, biết làm việc một cách chuyên nghiệp để có thể phát huy những mặt mạnh bẩm sinh trời phú.Ở Hà nội, có những nhóm họa sỹ, tập hợp với nhau để cùng thực hiện những dự án chung: cùng nhau tham gia một chương trình làm việc với một trung tâm nghệ thuật ở nước ngoài, dần dần, trở thành một thương hiệu. Nhóm của họa sỹ Trịnh Tuân là một ví dụ.Heritage Space thì có khác hơn.Cuối năm nay tại đây sẽ có một chương trình gọi tên là “Tháng thực hành nghệ thuật”. Trong chương trình này, Heritage Space sẽ mời một số nghệ sỹ nổi tiếng của các nước đến làm việc với các nghệ sỹ rất trẻ của Việt nam. Họ sẽ làm việc trao đổi với nhau thông qua công việc, qua những tọa đàm, những workshop cụ thể.  Đó là một cách đào tạo tắt, nhưng hiệu quả có lẽ nhanh hơn chăng?Tại đây cũng sẽ có không gian mở cho họa sỹ đến làm việc, và các chuyên gia có dịp ngồi bàn luận với nhau về các vấn đề mỹ thuật đương đại, nghiên cứu, lí luận, phê bình... Một mảng mà chúng tôi thấy rằng hiện rất thiếu và rất yếu.Một vấn đề cũng rất thiết yếu, đó là về hệ thống những phóng viên chuyên viết về mỹ thuật hiện nay của giới truyền thông. Họ là những người đưa mỹ thuật đến với công chúng. Nhưng thật khó để tìm thấy một phóng viên có chút ít kiến thức về mỹ thuật. Điều đó cũng dễ hiểu, vì họ đâu có được đào tạo, kể từ khi bắt đầu đi học, cho đến khi có tấm bằng tốt nghiệp nghành báo chí truyền thông. Trong các cuộc họp báo về mỹ thuật, họ đặt những câu hỏi mà nghệ sỹ chỉ có nước giơ tay kêu trời vì không thể trả lời được. Vì vậy nên, tôi cho rằng, để mỹ thuật đến được với công chúng, cần đào tạo lại cho các phóng viên chuyên ngành mỹ thuật.Cuối cùng mà chúng tôi nghĩ tới là sự thiếu vắng các nhà phê bình mỹ thuật, các chuyên viên tư vấn, môi giới chuyên nghiệp, các curator có khả năng định hướng, dẫn dắt uy tín… cũng đòi hỏi các không gian sáng tạo, đòi hỏi các nhà đầu tư phải suy nghĩ một cách nghiêm túc trong chiến lược phát triển của mình. Chúng ta không thể vươn ra biển lớn nếu không thấy tầm quan trọng của đội ngũ này.Với công chúng thì sao?Trả lời câu hỏi này không phải trách nhiệm các không gian sáng tạo mà chúng tôi vừa đề cập. Để hiểu, để yêu, để biết thưởng thức nghệ thuật phải là một quá trình học tập từ khi còn nhỏ tuổi, trên ghế nhà trường. Và do đó nó phải được đưa vào việc giảng dạy. Học mỹ thuật không phải là học tô màu theo các bản vẽ mẫu, hay trong các giờ vẽ, trò vẽ theo thầy. Mà học cách cảm nhận cái đẹp, học để hiểu các danh họa vẽ thế nào, vì sao họ vẽ như thế, các vẻ đẹp rất khác nhau bởi những cách nhìn khác nhau như thế nào, cách làm sao để thoát khỏi các định kiến khi ngắm một bức tranh, một công trình nghệ thuật…Bền bỉ, kiên nhẫn, chúng ta mới có thể tạo được một lớp công chúng yêu nghệ thuật, yêu cái đẹp, và tạo ra được thị trường nội địa cho mỹ thuật. Và không có cách nào khác cả! Chúng tôi nghĩ như vậy.

7.4 

Mai Xuân Oanh, Mùa chim, sơn dầu, 2010

 Và cơ chế nào cho các nhà đầu tư mỹ thuật?

Nhiều tham luận đã đề cập đến vấn đề này, nên chúng tôi chỉ thêm ý kiến ủng hộ. Các nghệ sỹ Việt nam có tiếng sống và làm việc ở nước ngoài, nói rằng, ngay cả những trung tâm nghệ thuật lớn của thế giới cũng không thể tự nuôi sống mình. Họ đều sống bằng những nguồn tài trợ, từ Nhà nước, từ các doanh nghiệp, từ các cá nhân yêu nghệ thuật. Nhà nước có thể không tài trợ trực tiếp mà thông qua các chính sách, cơ chế, giảm thuế thu nhập, thuế doanh nghiệp cho các nhà đầu tư mỹ thuật… Rồi đến việc cấp phép hoạt động cho các bảo tàng mỹ thuật tư nhân, từ đây chính là đầu ra cho Mỹ thuật Việt, để thay vì Nhà nước không có đủ tiền mua tranh cho bảo Tàng Quốc gia, những bảo tàng này sẽ là nơi lưu giữ lại những  bức tranh quý giá của Mỹ Thuật Việt đương đại, (mà mấy chục năm qua đã chảy máu ra nước ngoài không có cách nào trở lại.).Chúng tôi cho rằng, nếu thực hiện được hai việc này, thì đã là một may mắn cho sự phát triển thị trường mỹ thuật Việt đương đại.

 (Bài đăng trên Tạp chí Mỹ thuật Nhiếp ảnh số tháng 10/2015)

free vector